17:09 ICT Thứ ba, 30/09/2014

TTGD trẻ KT Lệ Thuỷ

Nhà hảo tâm-Bảng vinh danh

Quảng cáo - Liên kết

1
1
1
1
1

Hỗ trợ trực tuyến

1
Giám đốc

Name: Phạm Văn Hiệu
Quản trị website

Name: Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 1


Hôm nayHôm nay : 440

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 32280

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 535850

Giáo án

Trang nhất » Tin Tức » Chăm sóc & giáo dục trẻ KT

Chào mừng năm học mới

GIÁO DỤC HOÀ NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ

Thứ hai - 08/10/2012 08:51
TẬP HUẤN
GIÁO DỤC HOÀ NHẬP TRẺ  KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ
I. MỤC TIÊU:
   - Trình bày được khái niệm về khuyết tật ngôn ngữ, các dạng, mức độ tật ngôn ngữ và những khả năng nhu cầu của trẻ.
    - Nắm được tính chất và nguyên nhân gây tật ngôn ngữ.
    - Phân tích những khuyết điểm về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và nắm phương pháp rèn luyện, phát triển khả năng phát âm.
    - Vận dụng các phương pháp rèn luyện cấu âm cho học sinh, soạn kế hoạch bài dạy cho các môn trong dạy học trẻ khuyết tật ngôn ngữ.
II. NỘI DUNG BÀI DẠY CÓ CÁC PHẦN:
   1. Tìm hiểu thế nào là khuyết tật ngôn ngữ, các dạng  tật ngôn ngữ.
   2. Nguyên nhân gây khuyết tật ngôn ngữ.
   3. Phương pháp phục hồi và rèn  luyện cấu âm cơ bản, khả năng phát âm theo thành phần âm tiết, phát âm vốn từ và khả năng ngữ pháp.
   4. Rèn luyện và phát triển khả năng ngôn ngữ trong và ngoài giờ học các môn.
III. QUẢN LÝ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP TRONG NHÀ TRƯỜNG:
Nội dung cụ thể:
   1. Khái niệm về trẻ khuyết tật:
       *. Mất ngôn ngữ: Dạng này có những biểu hiện sau:
          - Không hiểu hoặc hiểu kém ngôn ngữ của người xung quanh.
          - Không thể nói được hoặc nói kém.
          - Biểu hiện ở ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
      *. Không có ngôn ngữ:
          - Không hiểu hoặc hiểu rất ít  ngôn ngữ khi nghe người khác nói.
          - Không biết nói hoặc nói rất ít so với trẻ cùng độ tuổi.
          - Hiểu ít, nói ít hoặc không nói.
       * Nói lắp: Thường lặp đi lặp lại nhiều lần một âm, một từ hoặc một cụm từ và biểu hiện ở hai thể sau:
           -Nói lặp giật rung: Là do rối loạn âm điệu, nhịp điêụ.
            - Nói lắp co thắt: Do bị các cơ khi nói.
       * Nói khó: Đây là dạng tật nặng do suy giảm chức năng điều khiển vận động của trung ương thần kinh và các đường dẫn truyền.
        * Nói ngọng: Trẻ nói ngọng là thường không có khả năng phát âm đúng những âm chuẩn của một phương ngữ nào đó.
   Ví dụ: “Quả chanh” đọc thành “toả tanh”
Dạng này có thể chia thành nhiều biểu hiện sau:
           - Ngọng thực thể.
           - Ngọng sinh lý.
           - Ngọng chức năng.
           - Nói ngọng phụ âm đầu.
           - Nói ngọng âm đệm.
           - Nói ngọng âm chính.
          - Nói ngọng âm cuối.
          - Nói ngọng thanh điêụ.
     * Rối loạn giọng điệu: Biểu hiện giọng nói khàn, yếu, đứt đoạn không rõ. Nguyên nhân do dây thần kinh bị tổn thương.
      Rối loạn đọc viết: Dạng này là do bệnh não hay viết thương sọ não thuộc vùng bán cầu đại não trái gây nên hoặc do thiếu sự rèn luyện về âm chính, chính tả, ngữ pháp. Thường nói đọc viết sai hoặc hioêủ sai lệch về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
     * Chậm phát triển ngôn ngữ: Biểu hiện trong giao tiếp, trẻ thường dùng điệu
 bộ, chỉ trỏ, gật, lắc đầu…
Như vậy, khi tìm hiểu về đối tượng trẻ khuyết tật ngôn ngữ, chúng ta cần nắm bắt và hiểu trẻ đó thuộc dạng tật nào để có phương pháp rèn luyện, phục hồi chức năng. Tuy nhiên chúng ta cần nắm chắc mức độ tật ngôn ngữ ở hai dạng mức độ nặng và mức độ nhẹ.
       - Mức độ nặng: Là những trường hợp khiếm khuyết ngôn ngữ gây ảnh hưởng trầm trọng như: Mất ngôn ngữ, không có ngôn ngữ, nói lắp nặng, nói khó.
        - Mức độ nhẹ: Có khả năng giao tiếp nhưng khả năng giao tiếp bị giảm sút về mặt này hay mặt khác: Như nói ngọng, nói lắp nhẹ, nói loạn giọng đIệu, chậm phát triển tiếng nói, rối loạn đọc viết.
NGUYÊN NHÂN:
     1. Môi trường ngôn ngữ và đặc điểm chăm sóc giáo dục:
       - Do bắt chước cái sai trong quá trình học nói không được uốn nắm kịp thời lâu dần sẽ trở thành thói quen ổn định.
    2. Bệnh tật dùng thuốc, chấn thương:
       - Trẻ bị mắc bệnh não, di chứng là trẻ khó khăn về nói. Để khắc phục tình trạng này trẻ cần phải được tiêm chủng đầy đủ và chống suy dinh dưỡng.
    3. Thai nghén và sinh nở của người mẹ:
    4. Thiếu sự phát triển không bình thường về cơ thể và các giác quan như: Môi, răng, hàm, lưỡi, có khiếm khuyết dẫn đến tình trạng tiếng nói của trẻ không bình thường.
II. PHƯƠNG PHÁT PHỤC HỒI VÀ RÈN LUYỆN CẤU ÂM CƠ BẢN:
 Có 4 phương pháp rèn luyện cấu âm cơ bản:
         + Luyện giọng nói: Bắt đầu từ việc luyện cơ quan hô hấp. Chú ý cường độ cao, thấp.
          + Thể dục cấu âm như: Thể dục môi, hàm, lưỡi, các động tác phối kết hợp.
          + Luyện tri giác ngữ âm, sửa lỗi phát âm sai với âm mẫu
          + Luyện phát âm, âm vị (môi, đầu lưỡi, quặt lưỡi, thanh hầu…)
Lưu ý:  Có thể rèn luyện cấu âm cơ bản cho trẻ bằng các trò chơi bắt chước tiếng kêu con vật hoặc tiếng kêu của các phương tiện giao thông…
III. PHƯƠNG PHÁT PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG PHAT ÂM THEO THÀNH PHẦN ÂM TIẾT:
     1.  Phát triển khả năng phát âm phụ âm đầu âm tiết:
             + Tách phụ âm đầu ra khỏi âm tiết để luyện.
Ví dụ: Lanh lợi, ta tách phụ âm đầu âm L
             + Luyện phát âm đó theo vị trí cấu âm và phương thức phát âm vị chuẩn, sử dụng phương pháp nghe – nhìn – bắt chước, phát âm chuẩn.
    2. Phương pháp phát triển khả năng phát âm âm đệm:
             + Sử dụng phương pháp âm tiết trung gian theo quy trình.
           Xác định âm vị.
            Lập quy trình phát âm.
             Luyện phát âm.
    3.  Khả năng phát âm âm chính.
        - Luyện phát âm đúng riêng biệt các nguyên âm đôi.
        - Ghép nguyên âm đó với nguyên âm cuối, luyện tập mở rộng dần trường ngôn ngữ từ âm tiết đến từ, đến câu…
     4.  Phát triển khả năng phát âm âm cuối.
        - Sử dụng âm phương pháp sử dụng âm tiết trung gian theo quy trình:
          Xác định âm vị.
          Lập quy trình phát âm.
          Luyện phát âm.
             Bước 1: Phát âm rõ hai âm tiết.
               Ví dụ: chim = chi – mơ
             Bước 2: Phát âm kéo dài âm tiết thứ nhất sau đó phát âm âm tiết thứ hai.
              Ví dụ: chim = chi – m – mơ
            Bước 3:  Phát âm ngắn, rõ các âm tiết.
              Ví dụ: chim = chi – m = chim.
        5. Phát triển khả năng phát âm chuẩn thanh đIệu:
            Sử dụng phương pháp âm tiết trung gian theo quy trình.
                 Xác định âm vị.
                  Lập quy trình phát âm.
                  Luyện phát âm.
IV. PHÁT TRIỂN VỐN TỪ VÀ KHẢ NĂNG NGỮ PHÁP:
    Nội dung 1: Phương pháp phát triển vốn từ của trẻ.
Thông tin:
          - Cắn cứ vào mục tiêu cụ thể chương trình của từng lớp học mà đạt ra yêu cầu  phát triển từ vựng cho học sinh.
          - Thông qua môn học chính khoá và ngoại khoá từng loại bài, kiểu bài.
          - Phân loại các từ cần rèn luyện và phát triển thành các nhóm  từ ngôn ngữ khác nhau.
   Nội dung 2: Phương pháp phát triển khả năng ngữ phát cho trẻ.
Thông tin:
           - Phân tích chức năng ngữ pháp theo mẫu câu, học thuộc lòng mẫu câu và luyện tập đặt câu theo mẫu.
          - Mô hình hoá cấu trúc theo sơ đồ: Sử dụng các mô hình hình học, kết hợp với màu sắc biểu thị các thành phần của câu.
          - Chú ý phải đơn giản hoá cấu trúc ngữ pháp sao cho câu dàI nhất cóp từ 5 đến 7 từ.
 V: RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG NGÔN NGỮ TRONG VÀ NGOÀI GIỜ HỌC CÁC MÔN:
Thông tin:
       1. Phương pháp dạy học trong lớp có học sinh khuyết tật ngôn ngữ
       - Căn cứ vào nội dung của từng bàI học cụ thể: Sáng tạo 4 phương pháp rèn luyện cấu âm  thành các trò chơi rèn luyện trong và ngoài giờ học.
     - Trong mỗi bài học( chủ yếu là bài tập đọc ) tập trung luyện phục hồi khả năng phát âm từ 2 đến 3 từ cho học sinh. (xác định từ hoặc các cụm từ cần luyện).
      - Tổ chức hoạt động giờ học.
      - Điều chỉnh về luyện đọc cho phù hợp với học sinh khuyết tật ngôn ngữ.
- Lập quy trình phục hồi hay chuẩn bị phần rèn luyện trong và ngoài giờ học.
   2. Xác định mục tiêu cho một bài học cụ thể:
       Mục tiêu hành vi, căn cứ vào thực trạng ngôn ngữ và kiến thức cần cung cấp của bài dạy (những tiếng, từ, cụm từ cần rèn luyện, phục hồi về ngôn ngữ của trẻ).
    3. Lập kế hoạch bài dạy cụ thể cho lớp học hoà nhập trẻ khuyết tật ngôn ngữ:           Trong đó cần lưu ý đến phương tiện dạy học.
A. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ:
      1. Dạy nói gắn liền với dạy khái niệm.
            - Hình thành từ ngữ diễn đạt khái niệm.
            - Hình thành khả năng phát âm đúng.
            - Không tách rời giữa âm và ngữ nghĩa.
    2. Đưa nội dung giáo dục vào nội dung dạy nói.
           - Dạy nói gắn liến với dạy sửa tật ngôn ngữ.
           - Giúp đỡ phát triển nhân cách.
    3. Đưa nội dung dạy nói vào các mặt giáo dục.
           - Phải sử dụng kỷ năng phát âm đúng vào tất cả các tình huống.
          - Dạy nói cho trẻ trong các hoạt động nội khoá, ngoại khoá và các mặt giáo dục: Đức, trí, thể, mĩ…
   4. Hình thành tính tự giác, tự tôn làm động lực cho quá trình rèn luyện.
          - Tạo hứng thú, thoải mái cho trẻ. Khắc phục những thói quên nói sai.
           - Động viên khích lệ trẻ tự giác, quyết tâm trong quá trình tập nói đúng.
    5. Tôn trọng tre, đảm bảo bình đẳng.
    6. Nguyễn tắc đa giác quan:
              Trẻ phải biết: - Lắng nghe.
             - Chú ý nhìn miệng, nhìn tranh và cố gắng bắt chước.
    7. Đảm bảo tuần tự theo giai đoạn:
          - Đánh giá mức độ nắm ngôn ngữ của từng trẻ, chỉ rõ từng lỗi.
          -Tiến hành chữa lỗi phát âmlần lượt từ dễ đến khó theo đặc đIểm cấu âm và tri giác ngữ âm.
        8. Vận dụng linh hoạt, hợp lý các nguyên tắc giáo dục khác vừa là một hoạt động chuyên môn nhằm sửa tật ngôn ngữ và nhằm hình thành nhân cách.
        9. Lấy môi trường ngôn ngữ của lớp học hoà nhập làm định hướng phất triển ngôn ngữ:  Ngôn ngữ cá nhân được hình thành và phát triển thông qua giao tiếp, giao lưu trong cộng đồng là môi trường phong phú để trẻ khuyết tật ngôn ngữ có cơ hội học tập.
B. NGƯỜI GIÁO VIÊN DẠY TRẺ KHUYẾT TẠT NGÔN NGỮ CẦN PHẢI CÓ:
     1. Phẩm chất của người giáo viên dạy trẻ khuyết tật ngôn ngữ.
           - Phải có hiểu biết về cơ chế sinh lý của ngôn ngữ.
           - Phải hiểu biết nguyên nhân, đặc điểm của các loại tật ngôn ngữ.
           - Phải biết về phương pháp sửa tật ngôn ngữ, dạy trẻ nói đúng tiếng Việt.
           - Giáo viên phải có ngôn ngữ chuẩn.
    2. Người giáo viên với công tác chủ nhiệm lớp học hoà nhập có trẻ khuyết tật ngôn ngữ.
          - Kiểm tra ngôn ngữ của học sinh theo định kỳ.
          - Tổ chức tập thể học sinh tham gia rèn luyện ngôn ngữ.
           - Xây dựng môi trường, tổ chức các hình thức giáo dục rèn luyện cấu âm, ngữ pháp, thanh điệu.
   3. Tổ chức lực lượng cộng đồng tham gia.
         - Phổ biến và tranh thủ các lực lượng cộng đồng cùng tham gia sửa tật ngôn ngữ cho các em nói đúng tiếng Việt.
          - Như hội đồng sư phạm, tập thể học sinh, phụ huynh, đoàn thể quần chúng, nhóm bạn bè.
C. QUẢN LÝ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP TRONG NHÀ TRƯỜNG:
          - Để  giáo dục hoà nhập thật sự có hiệu quả cần định rõ chức năng cụ thể rõ ràng.
        * Hội đồng giáo dục xã:
         - Có chức năng quyết định các chủ trương, tập hợp lực lượng tạo điều kiện hỗ trợ nhà trường thực hiện giáo dục hoà nhập.
         * Nhà trường:
         - Là đầu mối thiết lập các mối quan hệ với các ngành, với các lực lưỡng cộng đồng…
         - Tham mưu, đề xuất chủ trương, chế độ chính sách về giáo dục hoà nhập cho chính quyền địa phương, cho phòng giáo dục.
      * Hiệu trưởng nhà trường:
         - Phải nắm vững quy trình tẻienr khai và biết khai thác sức mạnh của cộng đồng trong việc thực hiện giáo dục hoà nhập.
        - Phải tổ chức bộ máy quản lý giáo dục hoà nhập bao gồm: Cán bộ quản lý, tổ chuyên môn, giáo viên.
        - Có kế hoạch, có nội dung phương pháp và được giáp sát đôn đốc, tôỉng kết đánh giá báo cáo lên cấp trên.
    * Đội ngũ giáo viên: 
     - Là người trực tiếp giảng dạy có vai trò quyết định hiệu quả của giáo dục hoà nhập.
     - Phải biết xây dựng mục tiêu phù hợp với từng trẻ khuyết tật, xây dựng mục tiêu, lập kế hoạch rèn luyện phát triển ngôn ngữ trong và ngoài giờ học.
       - Trực tiếp theo dõi nắm bắt các thông tin về trẻ khuyết tật. Có biện pháp phối hợp các tổ chức xã hội. Gia đình nhà trường và xã hội trong giáo dục trẻ khuyết tật ngôn ngữ.
 
 
 
                                                                       Xin cảm ơn!
 
 
 
 
 

 BÀI GIẢNG TẬP HUẤN GIÁO VIÊN DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT

1 
 

PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG

 
  • CƠ SỞ SINH LÝ CỦA TRẺ KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG:
  Trẻ khuyết tật là những trẻ khiếm khuyết về thể chất, dẫn đến giảm hoặc mất khả năng thực hiện chức năng vận động.
   Những trẻ khuyết tật vận động thường không sử dụng được chân tay như trẻ bình thường, khi có nhưỡng cử động lắc lư người, chuyển dịch chậm chạp hoặc giặp khó khăn đi lại, nằm, ngồi, ăn uống, cầm nắm các đồ vật. Trẻ giặp khó khăn khi phối hợp các thao tác vận động.
  • Nguyên nhân:
  • Cơ sở khoa học:
     Cấu tạo của bộ máy vận động do hệ cơ và hệ xương tạo thành nhờ có hệ cơ và hệ xương con người mới giữ được hình dáng nhất định, xương là trụ cột của cơ thể. Cơ là quá trình chủ động và di chuyển của con người. Nhờ cơ co kéo theo sự vận chuyển của xương. Xương và cơ hoạt động được là nhờ sự điều khiển của hệ thần kinh. Hệ thần kinh điều khiển tất cả các hoạt động của cơ thể trong đó có cơ quan vận động.
    Chức năng vận động trong hoạt động và phát triển của trẻ cần phải có những điều kiện cần thiết:
+Hệ xương, xương không bị tổn thương
+Hệ thần kinh phát triển bình thường.
+Môi trường sống thuận lợi phải sạch sẽ.
+Công tác giáo dục, y tế được quan tâm.
     b. Nguyên nhân dẫn đến tật vận động của trẻ:
      + Bệnh tật: -Bại não: Trẻ yếu, mềm nhũn, không bú
                        -Bại liệt: Nằm liệt, khó vận động.
                        -Tai biến mạch máu não: Để lại di chứng
                        -Dị dạng bẩm sinh: Trước khi sinh
                       -Viêm khớp: Do chấn động các khớp
        -Thoái hoá khớp: Do vi khuẩn
       - Chấn thương: Bị ngã, tai nạn
        - Cụt chi
       + Do thái độ thờ ơ của gia đình: Không chữa chạy kịp.
       + Xã hội không quan tâm: Tiêm phòng các loại văc xin.
       + Môi trường sống không đảm bảo, mất vệ sinh, bệnh lây lan.
      +Trẻ ốm đau tiêm thuốc không đúng liều lượng
      + Do bệnh bại liệt và bại não để lại di chứng.
      Bại liệt: Là một bệng truyền nhiễm do vi rút bại liệt xâm nhập vào cơ thểcon người qua đường tiêu hoá.
     Trẻ bại liệt trí tuệ trển binh thường
     Bại não hay các di chứng về não bao gồm các rối loạn chức năng đa dạng của não như rối loạn vận động về nghe, nói, trí tuệ, rối loạn về hành vy, rối loạn về cảm giác.
Bại não thường hay thay đổi, tình hình bất thường, bại não không bị lây truyền, một số trí tuệ giảm.
   2. Những khó khăn và thận lợi trong quá trình hình thành nhân cách của trẻ khuyết tật vận động:
   khó khăn:
   Sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động của trẻ cũng bị giảm sút. Trẻ thường gặp khó khăn trong sinh hoạt, lao động và học tập. Nhiều trẻ không thích di chuyển, thích ngồi một mình, không muốn vui chơi với bạn bè. Trẻ thường nảy sinh tâm trạng buồn chán, bị lạc quan bất lực, thích phụ thuộc vào người khác, trong chờ vào sự giúp đỡ của người xung quanh, mất niềm tin vào bản thân.
  Thuận lợi:
   Nhiều em thích ca hát, chơi cò thể thao. Tuy khó khăn về vận động song nhiều em rất giàu về nghị lực quyết tâm vượt qua tật nguyền trở thành người tài giỏi, nhất là trẻ bại liệt. Trẻ tật vận động có nội tâm nhạy cảm tế nhị, biết thương yêu với bạn bè cùng cảnh ngộ, biết giúp đỡ nhau để thích nghi với cuộc sống, lao động học tập vui chơi.
  3. Xây dựng mục tiêu trẻ khuyết tật vận động:
Với trẻ khuyết tật vận động nhiều em tuy tàn tật về thể xác song trí tuệ vẫn phát triển bình thường, thậm chí có những em rất thông minh, có năng khiếu đặc biệt. Ngược lại một số em do ảnh hưởng của bệnh tật ( bại não) trí tuệ giảm sút, vì vậy khi xây dựng mục tiêu phải dựa trê cơ sở thực tế khả năng còn lại của trẻ để đặt mục tiêu giáo dục cho phù hợp tình trạng bệnh tật. Xây dựng mục tiêu dài hạn, mục tiêu ngắn hạn.
  • Về phục hồi chức năng: Có sụ trợ giúp của y tế, phát hiện sớm, can thiệp sớm, các dụng cụ trợ giúp.
  • Kiến thức văn hoá của giáo dục có sự trợ giúp của thầy cô giáo về nhận thức văn hoá.
  • Lao động tự phục phụ: Bản thân phải tự cố gắng dưới sự hướng dẫn của người thân trong gia đình.
  • Hướng nghiệp dạy nghề; Nhờ sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội.
  • Khả năng hội nhập xã hội: Tổ chức trường lớp, đoàn đội, nhóm bạn bè tham gia văn nghệ thể dục thể thao…..
  4. Nguyên tắc giáo dục trẻ khuyết tật vận động:
    Dựa vào nhu cầu của trẻ để đề ra nguyên tắc giáo dục trẻ khuyết tật vận động.
  • Phải đảm bảo quyền bình đẳng cho trẻ như mọi trẻ khác.
  • Tôn trọng nhân cách của trẻ, tránh tư tưqởng xem thường trẻ là người bị bỏ đi, bị tàn tật.
  • Phải dảm bảo tính vừa sức, nội dung phương pháp giáo dục trẻ khuyết tật vận động phải phù hợp tình trạng tật nguyền, và khả năng còn lại của trẻ.
  • Mục đích cuối cùng là phải phục hồi chức năng, học văn hoá, phải biết một số nghề để chuẩn bị cho hội nhập với xã hội.
   5- Quá trình giáo dục trẻ khuyết tật vận động:
   Quan sát để đánh giá trẻ khuyết tật một cách toàn diện về mặt thể chất, tinh thần, các giác quan, hành vi, điều kiện môi trường sống. Khả năng tự khắc phục những khiếm khuyết của mình. Tìm ra được khả năng còn lại của trẻ để phát huy. Dựa vào khả năng còn lại để có mục tiêu hướng nghiệp phù hợp với đIều kiện mà không cần đến sự trợ giúp của cộng đồng.
   Giải pháp thực hiện: Bất kỳ một trẻ khuyết tật nào cũng phảI tuân theo những giải pháp giáo dục
   Tiến hành can thiệp sớm, phục hồi chức năng thường xuyên. Tổ chức giúp trẻ đến trường, dạy trẻ cùng học hoà nhập với trẻ bình thường.
   6. Nội dung giáo dục trẻ khuyết tật vận động:
    Nội dung giáo dục trẻ khuyết tật vận động cũng như giáo dục các trẻ khác ngoài ra đối với trẻ tật vận động trong quá trình giáo dục cần thực hiện :Giáo dục nếp sống đạo đức, phục hồi chức năng. Giáo dục lao động và nghề nghiệp. Giáo dục tính tự giác và tự trọng tạo cho các em niềm tin vào cuộc sống. Giáo dục khả năng hội nhập cộng đồng xã hội.
  Nội dung giáo dục phảI đảm bảo tính tổng thể, khi tác động đến trẻ sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách. Nội dung phải được thiết kế phù hợp với khó khăn, thuận lợi và khả năng còn lại của trẻ để giáo dục.
  7. Phương pháp giáo dục trẻ khuyết tật vận động:
   Nguyên tắc lựa chọn phương pháp dạy trẻ khuyết tật vận động:
     Không tuyệt đối hoá phương pháp nào
    Phải tính đến tình trạng tật nguyền và khả năng của trẻ
    Mỗi phương pháp sử dụng linh hoạt với từng trẻ nhằm phát triển khả năng còn lại của trẻ.
    Đảm bảo tính cộng đồng và tính cá thể hoá.
    Trong một quá trình giáo dục trẻ khuyết tật vận động cần vận dụng những phương pháp “đặc thù”.
    Đối với những trẻ khuyết tật vận động, trí tuệ vẫn phát triển bình thường cần được học nội dung chương trình như trẻ bình thường. Song tuỳ theo ảnh hưởng của tật nguyền mà có yêu cầu cụ thể đối với từng trẻ.
   Những trẻ khuyết tật vận động kèm theo sự chậm phát triển tinh thần, yêu cầu nội dung chương trình học cần hạn chế thấp hơn phù hợp với khả năng của trẻ.
   Trong quá trình giáo dục cần căn cứ vào tình trạng tật nguyền của từng trẻ mà miễn học những môn không thích hợp nhất là môn thẻ dục thể thao, lao động.
   Xây dựng tính cộng đồng giúp đỡ trẻ từ nhà đến trường.Phối hợp phục hồi chức năng.
  8.  Đánh giá kết quả giáo dục trẻ khuyết tật vận động:
  Trong môi trường giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật vận động được học cùng trẻ bình thường, với nội dung chương trình như nhau: Song không vì thếmà đánh giá kết quả trẻ khuyết tật vận động cũng theo chuẩn đánh giá trẻ bình thường. Vì trẻ khuyết tật vận động có những khó khăn nhất định ảnh hưởng và hạn chế phần nào kết quả học tập và rèn luyện của trẻ. Tuy vậy cũng không phải vì thế mà bỏ qua việc xem xét đánh giá hoặc đánh giá một một cách đại kháI, thông cảm, thương hại trẻ.
   Vì vậy khi đánh giá cần phải tính đến sự tiến bộ của trẻ so với tình trạng khả năng ban đầu. Đánh giá sự tiến bộ theo sự tiến bộ và nhìn nhận theo chiều hướng tích cực.
  Cần đánh giá khách quan, toàn diện theo các mặt: Thuận lợi, khó khăn, khả năng hoạt động nhận thức, mức độ phục hồi chức năng vận động, hành vi đạo đức, khả năng hội nhập.
   Đánh giá cần tạo cho trẻ niềm tin, hứng thú vươn lên.
   9.Vai trò vị trí của người giáo viên trong quá trình giáo dục trẻ khuyết tật vận động:
   Coi đây là việc làm nhân áio, coi đây là trách nhiệm, giáo viên phải nhận thức trách nhiệm, vai trò của mình và giải thích cho học sinh trong lớp cùng có trách nhiệm giúp đỡ trẻ khuyết tật vận động.
  Giáo viên luôn tạo cơ hội để trẻ hoà nhập với nhau cùng vui chơi, học tập bằng cách tổ chức hợp tác theo nhóm.
  Giáo viên cho trẻ khuyết tật vận động hiểu mình luôn được chấp nhận bình đẳng với tất cả các bạn cùng học, không phụ thuộc nhiều đến giáo viên hoặc sự giúp đỡ của bạn bè.
   10.Xây dựng nhóm hỗ trợ cộng đồng:
   Thành phần tham gia nhóm hổ trợ cộng đồng gồm có:
   Cha mẹ học sinh: Chăm sóc giúp đỡ trẻ ở gia đình.
    Giáo viên: Giúp đỡ vận động và dạy kiến thức văn hoá.
     Y tế: Chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng.
    Thương binh xã hội: Tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật phục hồi.
    Bạn bè trong lớp: Giúp đỡ nhau trong học tập; sinh hoạt vui chơi.
     *đối với trẻ khuyết tật vận động thì nhóm hổ trtợ cộng đồng có tầm quan trọng, trong mọi nơI, mọi lúc các em đều nhờ sự trợ giúp của mọi người nhằm thuận lợi cho sự vận động.
    *Trong nhà trường người giáo viên phải biết xây dựng vòng tay bè bạn bởi trẻ giúp đỡ nhau dễ hơn người lớn vì giữa trẻ có ngôn ngữ riêng dễ hiểu, đễ thông cảm.
   Người giáo viên phải cho học sinh nhận thức được lòng vị tha thông cảm đối với các em tật vận động, không dùng những từ ngữ xúc phạm đến bệnh tật của trẻ.
    *Xây dựng tổ, nhóm giúp đỡ từ nhà đến trường, vận động trong học tập sinh hoạt, vui chơi, các em lành phải coi đây là nhiệm vụ, trách nhiệm của nhóm. Tự giác giúp đỡ bạn trong lớp, trong trường.
    Giáo viên phải tạo nhiều tình huống để các em có sự hiểu biết và tạo cơ hội để các em gần gủi.
   Động viên kịp thời những hành vi biểu hiện tốt, tuyên truyền rộng rãi những hành vi đIển hình về giúp đỡ bạn khuyết tật vận động.
Một số thực trạng ở gia đình và xã hội đối với trẻ khuyết tật vận động.
- Đối với gia đình: Thiếu quan tâm thờ ơ lạnh nhạt, để cho các em nằm liệt gường, không cứu chữa đến nơi đến chốn, kinh tế thiếu thốn.
     - Đối với xã hội; Y tế không phát hiện được và tiến hành can thiệp sớm bằng cách cứu chữa và tư vấn cho gia đình để phục hồi chức năng.
     Đối với các trường có học sinh tật vận động học tập chưa có hệ thống đường đi, lối lại giúp cho các em đi lại dễ dàng, chưa đảm bảo sụ bình đẳng với các em bình thường.
     Khoa học ngày càng phát triển, nền văn minh của nhân loại ngày càng được nâng cao thì tính nhân văn, nhân bản ngày càng được chú trọng. Người lành đã chấp nhận người khuyết tật là những thành viên trong cộng đồng, họ có quyền và nghĩa vụ như các thành viên khác. Việc chăm sóc người khuyết tật trỡ thành đạo lý của dân tộc và được thể hiện trong nhiều văn bản pháp lý của nhiều quốc gia và cộng đồng quốc tế, Nghị định trở thành những công việc, những hành động cụ thể góp phần đưa những người khuyết tật vượt qua những tật nguyền để vươn lên trong xã hội.
 
                                                                                NGƯỜI TRÌNH BÀY
 
 
 
                                                                                     
                                                                                   PHẠM VĂN HIỆU
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
+++
 
 
 
.
 
 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn